BA LẦN KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MÔNG - NGUYÊN
Mở đầu
Vào thế kỷ XIII, đế chế Mông Cổ liên tiếp tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và thống nhất nhiều quốc gia ở khắp lục địa Á – Âu. Với tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam và dùng Đại Việt làm bàn đạp để tấn công các nước Đông Nam Á khác, quân Mông – Nguyên đã ba lần kéo quân sang xâm lược nước ta. Trước một thế lực hung hãn và hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, quân dân nhà Trần đã phải trải qua những thử thách cực kỳ cam go để bảo vệ trọn vẹn nền độc lập của dân tộc.
Cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất (năm 1258)
Đầu năm 1258, 3 vạn quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tiến vào Đại Việt. Trước thế giặc mạnh, vua Trần Thái Tông đã hỏi ý kiến Thái sư Trần Thủ Độ, ông khảng khái trả lời: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Nhà Trần đã thực hiện kế sách "vườn không nhà trống", quân dân tạm rút khỏi Thăng Long khiến giặc rơi vào tình cảnh thiếu lương thực và bị động. Khi thời cơ đến, nhà Trần mở cuộc phản công quyết định vào Đông Bộ Đầu (Hà Nội ngày nay). Quân Mông Cổ thua trận, rút chạy khỏi Thăng Long và tháo chạy về nước, cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi trong vòng chưa đầy một tháng.
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên lần thứ hai (năm 1285)
Năm 1285, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt huy động hơn 50 vạn quân do Thoát Hoan chỉ huy tràn vào xâm lược Đại Việt. Để chuẩn bị kháng chiến, vua Trần đã triệu tập Hội nghị Bình Than và sau đó là Hội nghị Diên Hồng để trưng cầu ý dân, thể hiện quyết tâm sắt đá của cả dân tộc. Trần Quốc Tuấn soạn Hịch tướng sĩ để khích lệ tinh thần binh sĩ; quân đội nhà Trần tự thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát" để thể hiện ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc. Khi giặc chiếm được Thăng Long, nhà Trần lại thực hiện kế sách "vườn không nhà trống" và rút về Thiên Trường (Nam Định). Sau khi làm tiêu hao sinh lực địch, quân dân nhà Trần mở cuộc tổng phản công, đánh bại quân Nguyên ở nhiều nơi như Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên tháo chạy về nước, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh bị mũi tên độc của quân ta.
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên lần thứ ba (1287 – 1288)
Quyết tâm trả thù cho thất bại, cuối năm 1287, nhà Nguyên lại huy động lực lượng lớn tiến vào nước ta. Tuy nhiên, tại Vân Đồn (Quảng Ninh), tướng Trần Khánh Dư đã chỉ huy quân ta phục kích và tiêu diệt đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, khiến quân Nguyên rơi vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng và buộc phải tính kế rút về nước. Nắm bắt thời cơ, Trần Quốc Tuấn đã bố trí trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt chiến thuyền của địch. Khi thủy triều rút, quân ta tổng tấn công khiến thuyền địch vấp vào cọc nhọn bị tan vỡ và đắm gần hết; tướng giặc là Ô Mã Nhi bị bắt sống. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược của nhà Nguyên đối với Đại Việt.
Nguyên nhân thắng lợi và sự lãnh đạo tài tình của vương triều Trần
Thắng lợi của ba lần kháng chiến là kết quả của lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập tự chủ và quyết tâm đánh giặc của quân dân Đại Việt. Trong đó, sự lãnh đạo sáng suốt của các vua Trần và tài năng quân sự kiệt xuất của các danh tướng như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải đóng vai trò quyết định. Trần Quốc Tuấn đã đề ra những kế sách đánh giặc đúng đắn, sáng tạo, biết tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu và biết tận dụng địa hình tự nhiên để tiêu diệt kẻ thù.
Chiến thắng của quân dân nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên đã ghi lại những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này không chỉ bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ của đất nước mà còn góp phần quan trọng ngăn chặn cuộc xâm lược của quân Mông – Nguyên xuống các nước khác ở Đông Nam Á, làm suy yếu đế chế Mông Cổ và khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ nhưng có ý chí tự cường vĩ đại.
Ý nghĩa của bài học
Bài học mang giá trị giáo dục sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận". Học sinh qua đó nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị lực lượng, kế sách đánh giặc và lòng tự hào về nghệ thuật quân sự độc đáo của cha ông. Ý nghĩa lớn nhất của bài học là bồi đắp lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với chủ quyền quốc gia và lòng tôn kính đối với vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Đây cũng là bài học quý báu về việc "khoan thư sức dân" để làm kế sâu rễ bền gốc, giúp quốc gia luôn vững mạnh trước mọi thử thách của lịch sử.
Bình luận (0)
Vui lòng đăng nhập để bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!